Home » Món ngon mỗi ngày từ cá » Hướng dẫn cách kho cá basa cực ngon

Hướng dẫn cách kho cá basa cực ngon

© Copyright 2013, All Rights Reserved. | Powered by WordPress | Designed by bdayh

Cá ba sa, còn gọi là cá giáo, đây là loại cá da trơn thịt trắng, vị ngọt béo, nhiều chất dinh dưỡng thơm ngon nên rất thích hợp cho món cá kho. Sau đây là hướng dẫn thực hiện món cá basa kho với công thức và cách làm công phu chắc chắn sẽ giúp các mẹ có thêm một món tủ để chăm sóc bữa ăn cho cả gia đình.

Nguyên liệu cho món cá basa kho
– 2 lát cá ba sa, bạn có thể dùng cá lóc, hay cá bống tùy theo sở thích của bạn.
– 3 thìa cà phê đường
– 1 thìa cà phê muối
– 1 thìa cà phê dầu ăn
– 3 thìa cà phê nước mắm
– Ớt trái (nếu bạn ăn cay)
– 1 – 2 củ hành tím
– 1 cây hành lá
Cách kho cá basa:
– Cá mua về rửa sạch, để ráo rồi ướp với 1 thìa cà phê muối trong khoảng 15 phút.
hướng dẫn chế biến cá ba sa kho 1
– Đun nóng 3 thìa cà phê đường, với 3 thìa cà phê nước lạnh, đun ở lửa lớn đến khi đường chuyển màu vàng cánh gián thì tắt bếp.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 2
-Nhanh tay cho 2 lát cá đã ướp muối vào nồi, lật đều hai mặt để cá có màu vàng cánh gián đẹp.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 3
– Hành tím thái nhỏ, rải lên trên bề mặt cá.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 4
– Thêm nước mắm, dầu ăn, ớt trái vào nồi, đặt nồi cá lên lại bếp, đun lửa lớn. Bạn nhớ đậy nắp nồi đến khi cá sôi bùng lên thì giảm xuống lửa nhỏ, lấy nắp nồi ra, đun cá nên đun lửa nhỏ và tuyệt đối không đậy nắp nồi và không châm nước vào nồi.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 5
– Nếu khi đun nước hơi cạn bạn có thể thêm vào ít nước mắm và đường để cân bằng độ mặn ngọt của cá. Khi kho cá sẽ ra nước nên không cần thêm nước.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 6
– Đun tầm 30 phút đến khi cá thấm gia vị thì bạn nêm nếm lại tùy theo khẩu vị rồi tắt bếp, rắc chút hạt tiêu lên bề mặt và rải hành lá đã thái nhỏ vào nồi cá cho thơm.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 7
– Múc ra dĩa dùng nóng với cơm.
hướng dẫn chế biến cá basa kho 8
Tìm hiểu thêm về cá basa
Cá ba sa, còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá da trơn có trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới.
Phân loại: Theo hệ thống phân loại Tyson Roberts, cá ba sa thuộc họ Pangasiidae, giống Pangasius, loài P. bocourti. Trước đây cá Basa được định danh là Pangasius pangasius (Hamilton) (Mai Đình Yên et al., 1992; Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương, 1993), Pangasius nasutus (Blecker) (Kawamoto et al., 1972).
Đặc điểm sinh học:Về ngoại hình, cá ba sa rất dễ phân biệt đối với các loài khác trong họ Cá tra. Thân ngắn hình thoi, hơi dẹp bên, lườn tròn, bụng to tích lũy nhiều mỡ, chiều dài tiêu chuẩn bằng 2,5 lần chiều cao thân. Đầu cá ba sa ngắn hơi tròn, dẹp đứng. Miệng hẹp, chiều rộng của miệng ít hơn 10% chiều dài chuẩn, miệng nằm hơi lệch dưới mõm. Dải răng hàm trên to rộng và có thể nhìn thấy được khi miệng khép lại, có 2 đôi râu, râu hàm tren bằng ½ chiều dài đầu; râu hàm dưới bằng 1/3 chiều dài đầu. Răng trên xương khẩu cái là một đám có vết lõm sâu ở giữa và hai đám răng trên xương lá mía nằm hai bên. Có 40-46 lược mang trên cung mang thứ nhất, vây hậu môn có 31-36 tia vây. Răng vòm miệng với dải răng trên xương khẩu cái ở giữa và răng trên xương lá mía ở 2 bên. Chiều cao của cuống đuôi hơn 7% chiều dài chuẩn. Mặt lưng có màu nâu, mặt bụng có màu trắng.
Phân bố: Cá ba sa phân bố rộng ở Myanma, Java, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam. Cá sống chủ yếu ở những sông rộng nước chảy mạnh (Mai Đình Yên và ctv, 1992). Đây là đối tượng nuôi nước ngọt có sản lượng xuất khẩu lớn nhất hiện nay. Nghề nuôi cá basa trong bè rất phát triển trên thế giới dưới mô hình nuôi mang tính công nghiệp với mật độ cao, năng suất trung bình 130-150 kg/m³/năm. Hiện nay có khoảng 4.000 bè nuôi, sản xuất trên 40.000 tấn/năm. Cá sống đáy ăn tạp thiên về động vật. Tỉ lệ Li/L (chiều dài ruột/chiều dài toàn thân) nhỏ thay đổi theo loại thức ăn từ 1,78 trong tự nhiên đến 2,36 khi nuôi bè.
– Cá giống thả nuôi trong bè cỡ 80-150 g/con, được nuôi với khẩu phần cho loài ăn tạp (50% cám, 30% rau, 20% cá và bột cá) sau 10-11 tháng đạt trọng lượng 800-1500 g/con (Phillip). Cá tăng trưởng nhanh trong tự nhiên, một năm tuổi 0,7 kg, hai năm tuổi 1,2 kg, kích cỡ tối đa khoảng gần 1 m, trọng lượng 15-18 kg.
Cá ba sa ở Việt Nam: Ở Việt Nam hai họ chính trong bộ cá trơn được nghiên cứu là họ Pangasiidae và Clariidae.
– Họ Pangasiidae có 21 loài thuộc 2 giống: giống Pangasius có 19 loài và giống Helicophagus có 2 loài. Có một loài sống trong nước lợ, 2 loài sống ở biển. Tính ăn của các loài trong họ Pangasiidae thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cá thể.
– Trong họ Pangasiidae 2 loài cá ba sa và cá tra là cá nuôi kinh tế của đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt trong hình thức nuôi tăng sản. Hằng năm nghề nuôi cá bè cung cấp hàng ngàn tấn cá ba sa cho thị trường trong nước, thêm vào đó là hàng ngàn tấn nguyên liệu cho thức ăn gia súc. Nếu trong năm 1993 sản lượng nuôi bè ở miền Nam Việt Nam ước lượng vào khoảng 17400 tấn hầu hết là từ các bè nuôi sông Mê Kông, thì chỉ riêng cá ba sa đã chiếm ¾ sản lượng này (13400 tấn). Trong năm 1996 sản lượng loài cá này khoảng 15000 tấn (Phillip Cacot).

© Copyright 2013, All Rights Reserved. | Powered by WordPress | Designed by bdayh
Tags :

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

Scroll To Top